Trước hết, bài viết này tôi không đi sâu vào giáo lý hay giáo luật của các tôn giáo. Cái khác nhau tôi nhắm đến ở đây là cái khác nhau cơ bản trong tư tưởng của mỗi tôn giáo, những điểm mấu chốt mà dựa vào đấy ta có thể khẳng định đây là tôn giáo nào, đó cũng là lí do mà theo tôi dù mục đích của các tôn giáo trên trái đất đa phần là giống nhau nhưng nó không bao giờ là một, hoặc điểm chung nằm ở hai chữ “tôn giáo”. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ chia sẻ về một số chi tiết mang màu sắc chính trị ảnh hưởng đến vị thế của các tôn giáo trên bản đồ tôn giáo thế giới.

Một người chỉ cần có cái nhìn bao quát một chút và không thiên vị sẽ nhanh chóng nhận ra, nếu không tìm xương trong bánh đúc thì mọi tôn giáo trên trái đất đều hướng đến một mục tiêu chung nhất là khuyến khích con người hành thiện, tránh làm điều ác, xây dựng đời sống đạo đức, phát triển các giá trị nhân phẩm dựa trên tình thương. Hoặc theo một cách nghĩ nào đó mà tôi tự luận giải cho mình thì một Đấng nào đấy khi tạo ra loài người đã liệu trước việc đa dạng trong tư duy của chúng ta mà gửi những thông điệp này cho những người đứng đầu, để người ấy tự suy diễn, dẫn dắt những con chiên đệ tử của mình. Do vậy, theo tâm tưởng của người dân khắp các lục địa (được lựa chọn hoặc theo truyền thống gia đình) mà mỗi tôn giáo có một phạm vi ảnh hưởng và ý nghĩa nhất định ở một khu vực nhất định.

1 Phật giáo ra đời ở Ấn Độ từ thế kỉ VI TCN do một người tên là Cồ Đàm Tất Đạt Đa sáng lập, phát triển mạnh mẽ ở Ấn Độ thời kì đầu và nhanh chóng lan ra các nước Tây Á sau đó theo con đường tơ lụa đi khắp thế giới. Tuy vậy, hiện nay tôn giáo này không còn được phổ biến ở Ấn Độ bởi những lý do về xung đột tôn giáo và sự du nhập có phần mạnh bạo của Hồi giáo cũng như sự khai trừ của Hin-du giáo mà tôi sẽ nói thêm ở một bài viết khác. Đến thời điểm hiện tại, Phật giáo đã có một chỗ đứng vững chắc và có phần độc tôn với hơn nửa dân số giữ đạo ở đa số các nước châu Á như Nepal, Bhutan, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Myanmar (Miến Điện), Sri Lanka (Tích Lan), Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia,… một số nước Đông Âu và một phần nhỏ các khu vực Ấn Độ với số lượng tín đồ lên đến 365 triệu người.
Điểm đặc biệt nhất mà tôi ghi nhận ở tôn giáo này chính là sự bao dung, PG thừa nhận tất cả các quan niệm của các tôn giáo chính thống, tôn trọng và có cách lí giải hợp lí khi nói chuyện với các tôn giáo khác. Slogan của tôn giáo này chính là TỪ BI-HỈ XẠ-HÀNH THIỆN-GIẢN DỊ. Chính là, con người phải luyện tập làm chủ bản thân, sướng khổ tự thân. PG tin vào luân hồi và thuyết nhân quả, cũng có nghĩa là sự tu tập của một người kéo dài qua nhiều kiếp sống và quá trình tiến hóa của tâm hồn người đó tốt đẹp hơn hay xuống cấp hơn dựa vào hành động của chính bản thân họ, ở điểm này chúng ta dễ bắt gặp những sự tương đồng trong các giáo lý của Ấn Độ giáo.
Nếu các tôn giáo khác tôn thờ các bậc thần linh của mình một cách nghiêm khắc thì Phật giáo lại là một tôn giáo vô thần. Danh xưng ‘Phật’ (hay Buddha) chỉ là một trạng thái tu hành, chúng ta tôn thờ Phật vì lòng tôn kính và noi gương vì những đạo hạnh mà vị Phật đó chứng giác được. Trong khuôn khổ của PG, mọi chúng sinh đều bình đẳng và đều có sẵn phật tính, điều còn lại chỉ là khả năng giác ngộ, bởi PG quan niệm kiếp người là sự khổ (Tứ diệu đế và Bát chánh đạo) phải tu hành để thoát khổ, tìm đến cõi niết bàn- tâm vô sở cầu (theo tôn chỉ Phật giáo tiểu thừa) và hoằng pháp chúng sinh, cứu khổ cứ nạn (theo tôn chỉ của Phật giáo đại thừa).
2 Ấn Độ giáo hay hindu giáo như cái tên của nó phát triển cực thịnh, ăn sâu vào tiềm thức cũng như quyết định mọi sinh hoạt và đời sống tâm linh của đa số người dân Ấn Độ, có khoảng 80% người Ấn theo Hindu giáo và độ phổ biến về số tín đồ trên thế giới thì đứng trên Phật giáo với 900 triệu người chủ yếu ở các khu vực Nam Á và Đông Nam Á như Nepal, Bangladesh, Sri Lanka, Campuchia, Thái Lan,… Hindu giáo ra đời khoảng 3500 năm trước, từ 1400-1500TCN, là tập hợp của nhiều giai đoạn tôn giáo khác nhau từng tồn tại ở Ấn Độ như Vệ đà, Bà-la-môn, Yoga,… Phân làm hai nhánh chính là Vishnu và Civa.
Theo quan niệm của triết học Ấn Độ, sống – chết không chỉ đơn thuần là vòng đời của mỗi con người mà còn là chu kỳ tự nhiên của toàn vũ trụ. Bởi vây, cũng giống PG, Ấn Độ giáo cũng tin vào kiếp luân hồi, thuyết nhân quả và Bản ngã, song điểm dễ phân biệt nhất ở 2 tôn giáo này là Ấn Độ giáo là tôn giáo đơn nhất thần (thờ cúng rất nhiều thần linh với tính chất khác nhau nhưng chỉ có một vì thần tối cao hơn cả). Ba vị thần tối cao nhất mà các nhánh Ấn Độ giáo đều thờ phụng là Brahma (Đấng tạo hóa), Vishnu (Đấng bảo hộ) và Shiva (Đấng hủy diệt)- được gọi là Tam thần Trimurti, những hoá thân của Svayam Thế Tôn hay Đấng tối cao, và công lí cuối cùng thì thuộc về vị thần tối cao cuối cùng.

Tuy được gọi là Đấng sáng tạo, người tạo ra kinh Vedas (kinh Vệ Đà) nhưng Brahma lại ít quan trọng hơn hai vị còn lại, ta dễ phân biệt Brahma bởi màu da đỏ hồng của ngài tượng trưng cho nguyên lý sáng tạo trong thiên nhiên; Trong khi đó người được các tìn đồ thờ phụng nhiều nhất là thần Vishnu, các Vaishnava (tên gọi cho nhánh tín đồ tôn thờ Vishnu) gọi Ngài là vị thần tối cao nhất, Vishnu thường được miêu tả là một chàng trai tuấn tú với làn da màu xanh cam, có 4 tay; Vị còn lại- Shiva (Shaivism) vừa được xem là thần sáng tạo và sinh sôi, vừa được xem là thần hủy diệt, Ngài có ý nghĩa như một vòng đời, một chu kì tự nhiên của toàn vũ trụ. Sự hiện diện của ngài thể hiện rõ một phần giáo lí cốt lõi của Hindu giáo- là luôn xem cái chết như một phần của sự sống và sự hủy diệt là tiền đề của sự sáng tạo, thần được miêu tả với hình dạng bán nam bán nữ (âm dương hợp nhất), làn da trắng, có bốn cánh tay và ba con mắt (có thể nhìn thấu quá khứ – hiện tại – vị lai).

3 Do Thái giáo | Kito giáo | Hồi giáo – nhóm tôn giáo Abraham. Lí do khiến tôi đưa ba cái tên này trong cùng một mục là bởi tôi muốn nói rõ hơn về điều làm nên sự sai khác của ba tôn giáo này trong cái nhìn của mỗi tôn giáo, và tại sao lại có sự thù hằn đáng sợ đến từ các tôn giáo như vậy.
Từ bé chúng ta đã nghe quá nhiều về sự thù hằn tôn giáo của những anh này thường xuyên trên các kênh thông tin đại chúng, về những cuộc bắn phá ở dải Gaza, về những lần Thập tự chinh đẫm máu, về chiến tranh Trung Đông, hay Hồi giáo cực đoan IS,… nhưng chưa đủ để cho ta có cái nhìn khách quan nhất. Kim chỉ nam của ba tôn giáo này là NHẪN- ĐỨC- HIẾU- KÍNH. Tuy không tin vào nhân quả luân hồi, nhưng lại tin vào địa ngục, thiên đường và ngày phán xét. Người theo đạo thì đều phải thực hiện nghiêm ngặt 10 điều răn.
Do Thái giáo thì chú trọng tục lệ, lễ nghi đời sống. Đây là tôn giáo độc thần thờ Thiên chúa Yahweh (còn gọi là Đức chúa toàn năng). Do Thái giáo cũng công nhận Jesus là sứ giả của thiên chúa, là tôn giáo của người Do Thái, với họ người Do Thái chính là dân tộc được chọn, là con của chúa và chúa sẽ luôn che chở cho họ;
Trong khi đó, Kito giáo và Hồi giáo chú trọng nhiều hơn đến mối quan hệ đứng đắn với thần thánh, slogan “thờ phụng thiên chúa và yêu thương mọi người như bản thân”. Kito giáo thờ Thiên chúa Ba Ngôi hiện hữu trong ba ngôi vị: Chúa cha- Chúa con- và Chúa thần linh, đặc biệt chỉ ra Jesus là con Thiên chúa, và con người không chỉ là tôi tớ của chúa, kẻ được cữu rỗi, mà còn là con của Chúa. Kito giáo chia làm 3 nhánh chính là Công giáo Roma (với 1 tỉ giáo dân), Chính thống giáo Đông Phương (với 350 triệu tín đồ), và Đạo tin lành (với 900 triệu giáo đồ).
Vị thần độc tôn của hồi giáo chính là Thánh Allah, Hồi giáo nhận định Muhammad là tiên tri cuối cùng của thiên chúa (cũng giống như Moses hay Jesus trong Do Thái Giáo). Sau cái chết của Muhammad, Hồi giáo phân thành 2 nhánh chính là Hồi giáo Sunni (chiếm 70-90%) và Hồi giáo Shia. Những người theo đạo Hồi dòng Sunni tin rằng 4 vị khalip đầu tiên – đệ tử tối cao của Muhammad, là người thừa kế Muhammad, Đấng Allah không có người thừa kế nào khác sau Muhammad, 4 vị khalip này sau này trở thành tên của 4 nhánh con thuộc đạo Hồi dòng Sunni: Hanafi, Hanbali, Maliki và Shafi’i.
Tổ chức nhà nước Hồi giáo tự xưng ISIS là một nhóm khủng bố thuộc đạo Hồi dòng Sunni, được thành lập ban đầu để chống lại dòng Shia tại Iraq.
Về phạm vi tôn giáo thì có thể nói, Kito giáo đang có vùng lãnh thổ tôn giáo phô trương nhất hiện nay, phủ rộng khắp thế giới đặc biệt là ở các khu vực Bắc Mỹ, Mỹ Latinh và khắp châu Âu, lên lỏi trong một số bộ phận dân chúng Á châu những thập kỉ gần đây. Hồi giáo cũng nhanh chóng phổ biến và độc tôn ở những vũng lãnh thổ ở Bắc Phi, Trung Á, Nam Á, Tây Phi, một phần lãnh thổ Nga và các tỉnh phía tây Trung Quốc với số tín đồ lên đến khoảng 1,5 tỉ người, đứng đầu trong top 10 tôn giáo lớn nhất thế giới. Trong khi đó, tuy ra đời sớm nhất trong 3 tôn giáo kể trên nhưng Do Thái giáo lại có lượng tín đồ khiêm tốn nhất vào khoảng 14,5 triệu người, rải rác ở Israel, Mỹ và châu Âu.
Để hiểu rõ hơn về câu chuyện thù hằn của những tôn giáo này, tôi muốn kể cho mọi người một chút về sự ra đời của các tôn giáo phương tây này, điểm thú vị là cả 3 tôn giáo này lại có cùng một gốc. Đây đều là các tôn giáo độc thần có nguồn gốc chung từ Abraham – một nhân vật sống vào đầu thiên niên kỷ 2 TCN (tức cách đây 4000 năm) ở bán đảo Ả Rập.
3000 năm về trước, tộc người Do Thái đến định cư ở phía tây bán đảo Ả Rập. Vị vua của người Do Thái tên là vua David (người đã đánh bại tên khổng lồ Goliath, trở thành điển tích cho việc lấy yếu thắng mạnh), thủ đô và trung tâm của người Do Thái tên là Jerusalem. Và trên quê hương với những vùng đất được định hình này, Do Thái giáo đã được sinh ra từ gốc khởi nguồn của Abraham.
Người Do Thái lập nước được một thời gian thì bị đô hộ, đầu tiên là Babylon (Iran, Iraq) ngày nay. Sau đó đến đế chế La Mã. 1000 năm sau khi bị mất nước, và vẫn đang nằm dưới chế độ cai trị của người La Mã, thì có 1 người Do Thái đã xuất hiện. Người đàn ông này và sự vĩ đại của ông ta sẽ thay đổi lịch sử thế giới. Tên ông là … Jesus. Ông tiến vào thành Jerusalem trên lưng một con lừa. Vì KINH CỰU ƯỚC của người Do Thái ghi rõ “Vị vua của Israel ở tương lai sẽ tiến vào Jerusalem trên lưng một con lừa” nên người Do Thái đã vây lấy ông, nghe ông nói chuyện, đợi ngày ông giải phóng dân tộc khỏi đế chế La Mã. Nhưng không, chỉ 1 tuần sau, đế chế La Mã biết tin, và người đàn ông ấy đã bị đóng đinh câu rút. Một bộ phận người Do Thái tin rằng chúa Jesus đã chết. Nhưng một bộ phận khác thì không, họ tin rằng chúa sẽ phục sinh và đưa họ ra khỏi dòng khổ ải trầm luân. Bộ phận này tách thành một giáo lý riêng gọi là KINH TÂN ƯỚC, với lễ Giáng Sinh (Chúa ra đời), và Lễ phục sinh (Chúa sống lại), đấy chính là Đạo Thiên Chúa (Kito giáo) của phương Tây. Những người này vì muốn cho tất cả biết rằng Chúa đã phục sinh, nên đã đi khắp nơi để giảng đạo. Lúc này, vì đế chế đang nằm trong quyền cai trị của La Mã, ngôn ngữ chữ viết La Tinh cũng thống nhất, nên vô tình giúp cho việc giảng đạo được dễ dàng hơn vì hành chính, giao thông đều thuận lợi. Câu nói “Đường nào cũng về La Mã” là có ý nói về sự ưu việt của Đế chế này. Những người Do Thái, Hy Lạp tin vào sự phục sinh của chúa lần lượt hành hương về La Mã. Tuy nhiên họ cũng bị bức hại rất nhiều, ngay cả trong những người Do Thái giáo khác. Cho đến năm 312, Hoàng đế Constantine nhận được điềm báo Thập tự giá, sau đó ông chiến thắng Maxentius ở trận Cầu Milvian, để thâu tóm quyền lực Đông và Tây. Tin rằng được phù hộ, đến năm 313, ông ra chỉ dụ Milano cho phép người Kito giáo được tự do hành đạo. Đến năm 380, Theodosius I chính thức công nhận Kito giáo là quốc giáo của đế chế La Mã. Hiện tại Roma, Vatican là kinh đô Kito giáo chính vì lẽ đó.
3000 năm trước, Do Thái giáo ra đời. 2000 năm trước, Thiên Chúa giáo ra đời. Vậy Hồi Giáo? 1400 năm trước, đến lượt Hồi Giáo xuất hiện. Vẫn là trên bán đảo Ả Rập đầy huyền bí đó. Một chàng trai trẻ khác tên là Muhammad (Mô ha mét), đã đến và vẫn là lấy gốc từ chính Abraham để tạo nên Hồi Giáo. Hồi Giáo thừa nhận hết những con người như Jesus, như Moise, như Abraham. Tuy nhiên, có 1 điểm khác biệt cốt lõi, chính điểm này đã sinh ra mâu thuẫn, và gián tiếp sinh ra đau thương. Bao gồm 2 điểm chính:
- Muhammad chỉ tự nhận mình là “Nhà tiên tri”, là sứ giả của thượng đế, là người phát ngôn của Thượng đế xuống truyền đạt đúng y lời của thượng đế.
- Muhammad nói rằng KINH KORAN là quyển kinh gốc mà thượng đế ban cho, là quyển kinh “Nguyên sơ nhất”, “Trọn vẹn nhất”. Trong khi Kinh Cựu Ước của người Do Thái và Kinh Tân Ước của người Thiên Chúa đã bị bóp méo đi rồi.
Người theo Do Thái đương nhiên không tin, người theo Thiên Chúa cũng chẳng tin. Nhưng người Hồi Giáo thì tin. Vậy là mâu thuẫn xảy ra khi người Hồi Giáo với niềm tin sắt đá đã xem những kẻ kia là dị giáo. Còn những người kia thì gọi bên kia là “Cực đoan”.

Khác với các tôn giáo hiền hòa phương Đông, các tôn giáo phương Tây này không ngừng đấu tranh loại bỏ lẫn nhau, không bao giờ thừa nhận những tôn giáo khác. Vậy nên khi có sự va đụng về quyền lợi, về vùng đất, thì cái đem lại chính là máu đổ, là chiến tranh. Trường hợp này, tôn giáo cũng chính là thuốc chữa tâm, nhưng là thuốc phiện.

Cẩn thận đó. Vì dù là học giả tôn giáo cũng không hiểu được toàn bộ thế giới tinh thần của người địa phương trọng đạo. Nên những gì được biết đến không hoàn chỉnh. Chính nó có thể là một sự cực đoan nên cẩn thận với các kết luận bên nào cực đoan. Bài viết hay nhưng kết bài hơi hoang mang ^^
LikeLike
Viết về tôn giáo rất khó để chiều lòng tất cả, em sẽ cố gắng hạn chế hơn những nhận định chủ quan.
LikeLike
Ý anh là có chủ quan, nhưng nên biết đó là chủ quan và ghi chú đó là chủ quan của mình.
LikeLiked by 1 person